Sự kiện Trân Châu Cảng: Khổ nhục kế của chính phủ Mỹ?


TG&VN - Ngày 7/12/2011, nước Mỹ kỷ niệm lần thứ 70 cuộc tấn công Trân Châu Cảng bằng cách treo cờ rủ và cử hành phút mặc niệm vào thời khắc cuộc tấn công thay đổi lịch sử khai diễn. Tuy nhiên, suốt bảy thập kỷ qua, nhiều lý thuyết gia vẫn tin rằng đó là khổ nhục kế của Tổng thống F.D. Roosevelt để thuyết phục người Mỹ về sự cần thiết can dự vào Chiến tranh thế giới thứ hai.

Chiến hạm USS Arizona của Mỹ bị nhấn chìm trong cuộc tập kích của Nhật vào Trân Châu Cảng năm 1941.

Ngày 7/12/2011, các buổi lễ đã được cử hành từ Trân Châu Cảng ở Hawaii đến Thủ đô Washington tại bờ Đông nước Mỹ nhằm tưởng niệm 2.400 người Mỹ thiệt mạng vào ngày này 70 năm về trước, khi Nhật Bản bất ngờ tấn công vào Hạm đội Thái Bình Dương (TBD) của Mỹ. Tổng thống Mỹ B. Obama đã phát biểu: “Vào một sáng Chủ nhật thanh bình cách đây 70 năm, bầu trời bên trên Trân Châu Cảng (TCC) tối sầm lại bởi bom của quân Nhật trong một cuộc tấn công đột ngột vốn thử thách sự kiên cường của các lực lượng vũ trang và ý chí của quốc gia”. Song liệu nó có thật sự bất ngờ với chính phủ Mỹ?

Tạo một cái cớ thuyết phục

Vào đúng 7 giờ 55 phút của ngày định mệnh, Nhật Bản đã oanh tạc Hạm đội TBD trú tại Hawaii. Trong hai giờ đồng hồ, khoảng 20 tàu đã chìm hoặc hư hại và 164 máy bay bị phá hủy. Trong số 2.400 người thiệt mạng, gần một nửa bị tiêu diệt chỉ trong vài giây trên chiến hạm USS Arizona khi một quả bom làm phát nổ kho đạn trên tàu.

Mặc dù nước Mỹ gọi đây là cuộc tấn công bất ngờ của Nhật Bản, nhưng theo giới phân tích chính trị thì Tổng thống Roosevelt đã biết trước về cuộc tấn công này, song chọn cách “im lặng” vì ông tin rằng cú sốc của cuộc tấn công sẽ thuyết phục người Mỹ về sự cần thiết can dự vào cuộc chiến. Quả nhiên, chỉ một ngày sau vụ tấn công ở Trân Châu Cảng, được sự chấp thuận của Quốc hội Mỹ, Tổng thống Roosevelt đã tuyên chiến với Nhật Bản, chính thức đưa nước Mỹ tham gia vào Thế chiến thứ hai.

Để củng cố thêm nhận định, giới phân tích còn lập luận, chẳng nhẽ các radar của quân Mỹ không thể phát hiện nổi 6 chiếc tàu chiến của Nhật chở theo 400 chiếc máy bay đậu cách mục tiêu 350km?

Hơn nữa, tối 6/12/1941, ngay trước ngày Nhật Bản tấn công TCC, tại Nhà Trắng, Tổng thống Roosevelt đã triệu tập một cuộc họp hiếm có mà thành phần tham dự là những cố vấn chiến tranh cao cấp, trong đó có Đô đốc Hải quân Mỹ Knox, Tư lệnh Tác chiến Hải quân Stark, Bộ trưởng Chiến tranh Stimson và Cố vấn Tình báo Harry Hopkins. Không khí trong phòng Bầu dục hết sức nặng nề. Dường như họ đang chờ đợi những gì sắp xảy ra với lực lượng quân hạm TBD của Mỹ tại TCC? Thậm chí sau cuộc tấn công, một nghi vấn lịch sử được đặt ra với câu nói đầy ám chỉ của Đô đốc Hải quân Knox với người bạn thân James Steinman rằng ông ta đang giữ một bí mật lớn của lịch sử.

Theo cơ quan giải mã MAGIC của Mỹ, năm 1941, trung bình mỗi tuần, MAGIC thu và giải 200 bản mật mã, trong đó có nhiều thông tin liên quan đến TCC. Ví dụ, ngày 24/9/1941, Hải quân Nhật gửi điện mật đến Lãnh sự quán Nhật tại Mỹ yêu cầu tìm hiểu vị trí neo đậu của các quân hạm Mỹ tại TCC. Ngày 15/11/1941, Nhật lại yêu cầu Tổng lãnh sự Nhật tại Mỹ phải gửi báo cáo về động thái của các quân hạm Mỹ tại đây ít nhất là 2 lần/tuần. Ngày 18/11/1941, Lãnh sự quán Nhật đã đánh điện mật thông báo cho quân đội Nhật biết về thời gian cũng như góc độ thay đổi phương hướng của những quân hạm Mỹ sau khi tiến vào Trân Châu Cảng…

MAGIC đều mang những thông tin quan trọng nhất trình lên Tổng thống, Tham mưu trưởng Lục quân và Hải Quân, Cục trưởng Cục Tình báo, Bộ trưởng Tác chiến cùng các đầu não quân chính khác. Có thể nói chắc chắn rằng chính phủ Mỹ đã gần như nắm được toàn bộ ý định của Nhật nhằm vào TCC. Thế nhưng chính quyền Mỹ lại không hề thông báo cho Đô đốc Hạm đội TBD E.Kimmel và Tư lệnh Căn cứ Hawaii - Trung tướng lục quân Walter Short, về việc quân hạm TBD sắp bị Nhật Bản tấn công.

Vì vậy, sau khi hạm đội TBD thất thủ, Đô đốc Kimmel đã trả lời thẳng trước Ủy ban Điều tra Quân sự Mỹ rằng: "Hải quân Mỹ ở TCC đã không nhận được bất kỳ thông tin liên quan nào về khả năng TCC sẽ bị tấn công. Hạm đội TBD đã bị cướp mất cơ hội chiến đấu, dẫn đến kết cục bi thảm ngày 7/12/1941". Còn Tư lệnh Tác chiến Hải quân Stark giải trình: "Tôi không muốn thông báo thông tin cho Đô đốc Kimmel, bởi như vậy sẽ rất dễ bị tiết lộ bí mật". Vậy thì Tư lệnh Stark sợ tiết lộ bí mật của Nhật hay của Mỹ?

Thêm những nghi vấn

Mặc dù các lãnh đạo cao cấp của Mỹ luôn vòng vo về sự kiện TCC, song những động thái tăng cường và rút quân tại TBD lại tỏ ra rất đáng ngờ. Đầu năm 1941, ¼ lực lượng tác chiến của hạm đội TBD gồm một tàu hàng không mẫu hạm, 3 chiến hạm chủ lực, 4 tàu tuần dương, 17 tàu bảo vệ được điều động sang hạm đội Tây TBD. Ngoài ra, Hải quân Mỹ cũng điều những sĩ quan giỏi nhất trong hạm đội ở TCC và đội thủy binh đến hạm đội Tây TBD. Thêm nữa, dù Đô đốc Kimmel từng nhiều lần trình bày với Tư lệnh tác chiến Hải quân Stark về tầm quan trọng của việc tăng cường sức mạnh cho hạm đội TBD, song chính phủ Mỹ không hề lưu tâm. Trong thư gửi Tư lệnh Stark ngày 22/9/1941, Đô đốc Kimmel viết: “Một hạm đội TBD mạnh sẽ là một sự đe doạ với người Nhật, còn một hạm đội yếu, mỏng sẽ thu hút sự chú ý của Nhật. Trước khi chúng ta có đủ thực lực để chống lại Nhật, chúng ta sẽ thất thủ ở Trân Châu Cảng”.

Sự kiện tưởng đã qua đi, song ngày 5/9/1995, Tổng thống Clinton bất ngờ nhận được một lá thư từ một phụ nữ Mỹ tên là Helen E.Hamman. Trong thư, bà cho biết cha bà là ông Don Smith đã từng kể cho bà một vài bí mật kinh hoàng liên quan đến TCC. Trong Thế chiến II, cha bà là Phó Chủ nhiệm Cục Hậu cần của quân đội Mỹ. Theo đó, trước khi xảy ra sự kiện TCC không lâu, Tổng thống Roosevelt đã khẩn cấp triệu tập cuộc họp bí mật và công bố rằng Chính phủ Mỹ đã dự kiến được Hải quân Nhật sẽ tập kích TCC, do đó có thể dẫn đến nhiều thương vong cho người và của. Cuối cùng, Tổng thống Roosevelt ra lệnh cho những người tham gia cuộc họp bí mật này phải nhanh chóng điều động các nhân viên y tế, thuốc men và các trang thiết bị cấp cứu tập trung tại một bến cảng ở bờ biển miền Tây nước Mỹ. Tổng thống cũng đặc biệt nhấn mạnh tuyệt đối không để lọt thông tin ra ngoài. Tổng thống giải thích: “Chỉ khi nước Mỹ bị tấn công thì những người dân Mỹ đang còn do dự mới đồng ý nhảy vào cuộc chiến…”.

Mặc dù bà Hamman không phải là người có mặt ở TCC và ông Smith cũng đã qua đời năm 1990, song các báo cáo và hồ sơ lưu trữ quốc gia Mỹ trong 2 năm 1941-1942 cho thấy Hội Chữ thập Đỏ Mỹ và lực lượng cứu hộ của Cục Hậu cần quân đội Mỹ từng có những cuộc điều động người và vật chất cấp cứu một cách bất thường 2 tuần trước sự kiện TCC. Cụ thể, Chi nhánh Hội Chữ thập Đỏ Mỹ ở Hawaii đã nhận được thiết bị và thuốc men cấp cứu trị giá 50.000 USD từ Tổng bộ Hội hoặc trong thời gian trên, chi nhánh này có tới 2.534 nhân viên y tế, trong khi chỉ có 1.029 người làm việc thường xuyên ở đây, còn 1.505 người khác là mới được điều động...

Nhà sử học người Mỹ Charles Beard nhận định rằng trước thái độ không quan tâm đến cuộc chiến của người dân Mỹ, Tổng thống Roosevelt đã quyết định phải đưa nước Mỹ vào cuộc chiến trước khi các nước phát xít chinh phục toàn châu Âu, do vậy Tổng thống đã dùng đến “khổ nhục kế” này. Đồng thời để làm giảm tổn thất, ông Roosevelt đã điều 3 mẫu hạm chủ lực ra khỏi TCC và bí mật đưa vật chất và nhân viên y tế đến cứu hộ nhằm khắc phục hậu quả… Tất nhiên, do thiếu chứng cứ, nên “khổ nhục kế” này vẫn còn là bí mật.

Minh Minh (Theo Military Digest)

đọc tiếp »

Cuộc tấn công Trân Châu Cảng 70 năm nhìn lại


DANTRI - Ngày 7/12/2011 đánh dấu tròn 70 năm vụ tấn công nhằm vào Trân Châu Cảng do quân Nhật tiến hành. Vụ tấn công đã khiến 2.390 lính Mỹ thiệt mạng và khiến Mỹ quyết định tham gia Chiến tranh Thế giới II.

Ảnh chụp từ trên một máy bay của Nhật về “Hàng tàu chiến” tại Trân Châu Cảng, dọc Đảo Ford, khi cuộc tấn công vừa được “khai màn” vào sáng chủ nhật ngày 7/12/1941.

Trận đánh này được dự trù sẽ ngăn ngừa và giữ chân Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ không can thiệp đến cuộc chiến mà Nhật Bản đang hoạch định nhằm xâm chiếm Đông Nam Á, chống lại Anh Quốc, Hà Lan và Mỹ. Ảnh Tàu USS West Virginia bốc cháy và bị chìm sau vụ tấn công.

Cuộc tấn công bao gồm hai đợt không kích với tổng cộng 353 máy bay xuất phát từ sáu tàu sân bay Nhật Bản. Ảnh binh sỹ Mỹ khẩn trương dập lửa cho tàu USS West Virginia.

Tàu USS Shaw phát nổ trong cuộc tấn công.

Lính Mỹ đứng gần xác chiếc máy bay trong cuộc tấn công bất ngờ của Hải quân Nhật nhằm vào Căn cứ Không quân của Hải quân Mỹ trên Trân Châu Cảng.

Trận tấn công bất ngờ của Nhật đã đánh chìm bốn thiết giáp hạm của Mỹ (hai chiếc trong số đó sau này được vớt lên và đưa trở lại hoạt động), và gây hư hỏng cho bốn chiếc khác. Trong ảnh là chiếc USS Arizona bị bốc cháy ngay sau khi kho đạn phía trước của nó phát nổ.

Bức ảnh do quân Nhật chụp cho thấy vụ tấn công vào Trân Châu Cảng. Xa xa là khói bốc lên từ Hickam Field.

Quân Nhật còn đánh chìm hoặc phá hoại ba tàu tuần dương, ba tàu khu trục và một tàu thả mìn, phá hủy 188 máy bay. Ảnh tàu USS Arizona đang bốc cháy.

Chiến hạm USS Arizona bốc cháy sau khi kho đạn phía trước của tàu bốc cháy cùng với các tàu khác tại Trân Châu Cảng. Bên phải, bị phủ trong khói lửa, là cột buồm chính và cột buồm mũi của chiến hạm USS West Virginia, đang bị nghiêng mạnh về phía cảng sau khi bị trúng ngư lôi. Xa hơn về phía phải là cột buồm chính của chiến hạm USS Tennessee đè lên West Virginia. Cột buồm của chiến hạm USS Vestal nghiêng về phía Arizona.

Thiệt hại về phía Nhật Bản nhỏ, chỉ mất 29 máy bay và bốn tàu ngầm “bỏ túi”, với 65 người thương vong. Ảnh chiến hạm USS Nevada bốc cháy ngoài Căn cứ thủy phi cơ Đảo Ford. Đằng sau, bên trái là chiến hạm Shaw đang bốc cháy.

Cuộc tấn công và đặc biệt là bản chất bất ngờ của nó đã khiến Mỹ thay đổi quan điểm "trung lập", tham gia vào Chiến tranh Thế giới II. Ảnh chiến hạm Nevada bị mắc cạn và đang bốc cháy sau cuộc không kích của quân Nhật.

Ảnh USS California bốc cháy trong vụ tấn công của Nhật.

Tiếp sau Mỹ là Anh, các thuộc địa của Anh, Hà Lan và một loạt các nước châu Mỹ La tinh tuyên chiến với Nhật. Một chiếc máy bay B-17C bị cháy ở Nhà chứa máy bay số 5, Hickam Field, sau vụ tấn công của máy bay Nhật.

Phan Anh - Theo Reuters, Wikipedia

đọc tiếp »

Vì sao Ấn Độ hiện đại hoá quốc phòng?


TQ - Trung Quốc không ngừng tăng cường tiềm lực quốc phòng, gia tăng hiện diện quân sự, xây dựng cơ sở hạ tầng dọc biên giới với Ấn Độ, và đặc biệt là liên tiếp tuyên bố chủ quyền đối với bang Arunachal Pradesh khiến Ấn Độ phải hiện đại hóa quân đội.

Tháng 10 vừa qua, giới hoạch định chính sách quốc phòng Ấn Độ đưa ra quyết định mang tính chiến lược then chốt, theo đó triển khai tên lửa hành trình siêu thanh Brahmos có tầm bắn 290 km tới khu vực phía Đông để tăng cường khả năng đối phó với Trung Quốc. Theo báo Daily News & Analysis, Ấn Độ sẽ tăng cường khả năng giám sát trên không bằng việc đưa vào sử dụng ít nhất 114 trực thăng chiến đấu hạng nhẹ LCH do Công ty nội địa Hindustan Aeronautics Ltd. thiết kế với vai trò chính là phòng thủ trên không chống các mục tiêu di chuyển chậm, phá các hoạt động phòng không của đối phương, trinh sát và chống tăng.

Ngoài ra, New Delhi sẽ tuyển thêm 100.000 quân trong 5 năm tới, đồng thời sẽ triển khai thêm 4 sư đoàn tới khu vực miền Đông. Tại đây, Ấn Độ hiện có 120.000 quân, được hậu thuẫn bởi hai liên đội Sukhoi 30 MKI từ Tezpur.


Theo tờ The Times of India, New Dehlicòn cũng có kế hoạch trong 5 năm tới sẽ triển khai thêm 2 đơn vị biệt kích với quân số 1.600. Lực lượng này sẽ được tăng cường khả năng chiến đấu độc lập, đủ sức hoạt động trong trạng thái bị cô lập suốt 48 giờ. Mỗi binh sỹ biệt kích sẽ được trang bị hệ thống định vị toàn cầu, thiết bị liên lạc cá nhân tiên tiến gắn trực tiếp trên người và không cần điều khiển bằng tay. Ngoài ra, những binh sỹ này còn được trang bị hệ thống máy tính và bản đồ số được tích hợp trong quần áo để phân tích tình trạng tác chiến.

Ngoài ra, pháo siêu nhẹ và xe tăng thiết giáp cũng sẽ được triển khai đến khu vực Đông Bắc. Gần đây, New Dehli cũng hết sức quan ngại trước quan hệ quân sự ngày càng gần gũi giữa Trung Quốc và Pakistan, đặc biệt sau khi Bắc Kinh hứa chuyển giao cho Islamabad 50 chiến đấu cơ JF-17 trong 6 tháng tới. Để tăng cường phòng thủ trên mặt trận phía tây với Pakistan, Ấn Độ đã quyết định triển khai trực thăng hạng nhẹ ALH được trang bị tên lửa không đối không và tên lửa chống tăng.

Phản ứng trước động thái tăng cường tiềm lực quốc phòng của Ấn Độ, gần đây Nhật báo Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có bài viết nhấn mạnh các hành động quân sự của Ấn Độ ở quân khu miền Đông xuất phát từ tham vọng nhằm kiềm chế Trung Quốc. Tuy nhiên, động thái tuyển thêm quân của Ấn Độ sẽ “chẳng đi tới đâu”.

Theo giới quan sát, bất chấp tuyên bố việc tuyển thêm quân của Ấn Độ sẽ chẳng đi đến đâu, nhưng về phía Trung Quốc, nước này cũng có nhiều động thái quân sự đáng quan tâm. Bắc Kinh cũng củng cố sự hiện diện quân sự tại Tây Tạng, rất gần Tuyến kiểm soát thực tế (LAC) ở bang Arunachal Pradesh. Theo tiết lộ của một báo cáo năm 2010 do Bộ Quốc phòng Mỹ đưa ra, Trung Quốc đã thay thế tên lửa đạn đạo tầm trung dùng nhiên liệu lỏng CSS-3 bằng tên lửa CSS-5 MRBMs hiện đại hơn nhiều. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đầu tư nhiều tiền của để xây dựng và nâng cấp các tuyến đường giáp biên giới Ấn Độ để hỗ trợ quá trình cơ động và triển khai của Quân Giải phóng Nhân dân (PLA). Về vũ khí, Bắc Kinh cũng triển khai các tên lửa liên lục địa, chẳng hạn DF-31 và DF-31A tại Delingha, phía Bắc Tây Tạng. Trên biên giới giáp Ấn Độ, Trung Quốc đã triển khai 13 trung đoàn phòng thủ biên giới, với khoảng 300.000 quân. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng rất chú ý đến vấn đề xây dựng các sân bay tại Hoping, Pangta và Kong Ka. Các sân bay này cùng với 6 sân bay khác ở khu tự trị Tây Tạng sẽ được sử dụng để hỗ trợ các máy bay chiến đấu và tăng cường khả năng không vận của PLA.

Theo giới phân tích, đứng trước tình hình hiện nay, khi sức mạnh của Trung Quốc phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế đến chính trị quốc phòng, sẽ rất khó để bất kỳ một đối thủ nào đó đối đầu trực diện với Bắc Kinh, và Ấn Độ không phải là trường hợp ngoại lệ. Thông qua các diễn đàn song phương và đa phương, Ấn Độ cần tuyên bố rõ rằng, New Dehli không mong muốn xung đột vũ trang với Bắc Kinh, New Dehlichỉ tăng cường tiềm lực quốc phòng để đối phó với các cuộc tiến công từ nước ngoài. Và việc xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự ở bang Arunachal Pradesh có thể giúp Ấn Độ tăng cường khả năng phòng thủ truyền thống.

Tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Ấn Độ đã kéo dài từ lâu. Tuy nhiên, đây không phải là bài toán không có lời giải. Giới phân tích cho rằng, cách tốt nhất để tháo gỡ vấn đề nan giải này là hai bên thông qua một cơ chế đàm phán và xây dựng lòng tin lẫn nhau./.

Thế Phương (Theo các báo nước ngoài)

đọc tiếp »

Liệu Israel có dám đánh Iran?


NLD - Trong mấy ngày qua, các nhà lãnh đạo Israel đưa ra những tuyên bố trái ngược nhau về cách xử lý vấn đề hạt nhân của Iran

Ngày 5-11, trả lời phỏng vấn báo chí, Tổng thống Israel Shimon Peres tuyên bố rằng “một giải pháp quân sự chống Iran gần hơn giải pháp hòa bình hơn lúc nào hết”. Ông nêu lý do: Iran vẫn tiếp tục chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân, bất chấp cảnh báo của quốc tế.

Lòng dân phân tán

Ngày 8-11, báo cáo của IAEA (Cơ quan Năng lượng hạt nhân quốc tế) xác nhận nghi ngờ của Israel và các nước phương Tây là có cơ sở. Các thanh tra của IAEA nói đã thu thập được nhiều bằng chứng cho thấy Iran bí mật nghiên cứu và phát triển bom hạt nhân.
Tuy nhiên, ngày 7-11, Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barak - người được báo chí Israel tiết lộ cùng một phe với Thủ tướng Benjamin Netanyahu chủ trương tấn công Iran “ngay bây giờ” - đã hạ nhiệt những cái đầu nóng: “Chiến tranh không phải là một bữa ăn ngoài trời. Chúng tôi thích ăn ngoài trời chứ không thích chiến tranh. Israel chưa quyết định tiến hành bất cứ chiến dịch quân sự nào”.

Thủ tướng Netanyahu thuyết phục nội các trong cuộc họp hằng tuần ngày 30-10. Ảnh: Reuters

Theo kết quả thăm dò ý kiến quần chúng là người Do Thái và người Ả Rập của nhật báo Israel Haaretz ngày 3-11, có 41% người được hỏi ủng hộ giải pháp quân sự của ông Netanyahu và 39% chống lại, 20% còn lại không bày tỏ ý kiến.

Trong khi đó, 54% người Ả Rập nghĩ rằng Israel không nên can thiệp quân sự, 45% người theo đạo Do Thái chính thống cũng chống lại đề xuất của Thủ tướng Netanyahu so với 54% người theo đạo Do Thái cực đoan ủng hộ ông.

Cuộc thăm dò nói trên cũng hỏi những người Do Thái lẫn Ả Rập có tín nhiệm Thủ tướng Netanyahu và Bộ trưởng Quốc phòng Barak “trong vấn đề Iran hay không”. 52% trả lời có so với 37% trả lời không và 11% không có ý kiến.

Cũng theo kết quả thăm dò của Haaretz, có 80% người Do Thái tin rằng tấn công Iran có nghĩa là phải đối phó với những cuộc tấn công của Hamas ở mạn Nam và Hizbollah ở mạn Bắc.

Sở dĩ có cuộc thăm dò nói trên là do trước đó, một số tờ báo lớn Israel tiết lộ Thủ tướng Benjamin Netanyahu đang tìm cách thuyết phục nội các chính phủ ủng hộ kế hoạch tấn công ngay Iran.
Thông thường, chính quyền Israel không bao giờ tiết lộ những kế hoạch hành động quân sự chống Iran. Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn có thông tin rò rỉ trên các phương tiện truyền thông đại chúng phương Tây.

Theo đó, Israel và Mỹ đã hoàn tất các kế hoạch tấn công Iran, sắp khai hỏa. Trong trường hợp này, hoặc Tel-Aviv cố tình tiết lộ để thăm dò dư luận hoặc phe chống đối trong nội bộ Israel xì ra để “phá đám”. Giả thuyết sau có lẽ đúng nhất.

Nội các chia rẽ

Nahum Barnea, một nhà báo nổi tiếng của nhật báo Israel Yediot Ahronot, là người đầu tiên tiết lộ thông tin bí mật nói trên.

Ông cho biết thêm Thủ tướng Netanyahu đã lôi kéo được Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barak và Ngoại trưởng Avigdor Lieberman, những người trước đây chống lại việc tấn công Iran, về phía mình nhưng không thuyết phục được đa số thành viên nội các.

Điều đáng nói, đối đầu với bộ ba “diều hâu” nói trên hơn ai hết là các vị phụ trách an ninh, tình báo và quân đội. Đó là tổng tham mưu trưởng Benny Gantz, Giám đốc Cơ quan Tình báo quân đội Aviv Kochavi, Giám đốc Mossad (Cơ quan Phản gián) Tamir Pardo và Giám đốc Shin Bet (Cơ quan Tình báo nội địa) Yoram Cohen. Những vị này ủng hộ giải pháp trừng phạt kinh tế Iran.
Thủ phạm tiết lộ gây khó chịu cho ông Netanyahu nói trên, theo truyền thông Israel, là cựu giám đốc Mossad Meir Dagan và cựu giám đốc Shin Bet Youval Diskin, hai người vốn thuộc phe “diều hâu”.

Tuy nhiên, theo Phó Thủ tướng Moshe Ayalon, ông Barak đáng nghi nhất. Ông này ngả theo phe thủ tướng là vì muốn củng cố địa vị trong chính phủ và gần gũi thủ tướng hơn chứ thật ra, ông là người luôn chống đối giải pháp quân sự, theo giải thích của ông Ayalon.

Ông Ayalon cũng là người bất đồng chính kiến với Thủ tướng Netanyahu. Ông cho rằng hành động đơn phương chống lại Iran là cực kỳ nguy hiểm, cần phải có sự đồng hành của Mỹ. Ông ủng hộ việc tăng cường các biện pháp quốc tế trừng phạt Iran hơn là dùng sức mạnh quân sự.

Ẩn số Mỹ

Theo tiết lộ của truyền thông Israel, cuộc tranh cãi trong nội các về vấn đề Iran chủ yếu xoay quanh việc có nên đơn phương tấn công nước này hay không. Quan điểm của ông Ayalon rất rõ: Cần phối hợp với Mỹ.

Công khai mà nói, Mỹ có vẻ như đang kiềm chế Israel. Trong chuyến viếng thăm Israel hồi tháng rồi, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta khuyến cáo: “Cách đối phó hiệu quả nhất đối với Iran là không nên đơn phương hành động”.
Mới đây, Nhà Trắng cũng tuyên bố Mỹ tiếp tục tìm một giải pháp ngoại giao cho hồ sơ hạt nhân Iran. Jay Carney, người phát ngôn của Nhà Trắng, khẳng định: “Chúng tôi đang tập trung vào kênh ngoại giao trong khi thương lượng với Iran”.

Phó Thủ tướng Moshe Ayalon (giữa). Ảnh: G.N

Giải thích thái độ thận trọng của Washington, các chuyên gia về vấn đề Iran tin rằng Mỹ đang bận bịu với cuộc bầu cử tổng thống 2012 nên chắc chắn sẽ không ủng hộ Israel tấn công Iran trong lúc này.
Michel Liégeois, nhà nghiên cứu Pháp ở Trung tâm Nghiên cứu xung đột và khủng hoảng quốc tế, nhận định rằng chính quyền Obama đang trầy trật rút khỏi hai cuộc chiến trong khu vực nên sẽ không dại gì rước thêm “một thảm họa” nếu gây ra “cuộc chiến thứ ba” ở Trung Đông.

Hậu quả khôn lường

Cách đây 3 năm, cựu giám đốc IAEA Mohamed ElBaradei từng cảnh báo rằng tấn công Iran “sẽ biến Trung Đông thành một quả cầu lửa”. Lời cảnh báo này đến nay, theo các chuyên gia, vẫn còn giá trị

“Hậu quả khôn lường” là cụm từ mà Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta dùng trong buổi họp báo ngày 10-11 tại Lầu Năm Góc vài giờ sau khi Iran cảnh báo rằng tấn công vào các cơ sở hạt nhân của nước này sẽ đối mặt với “bàn tay sắt”.

Ông Panetta nói ông hoàn toàn đồng ý với nhận định của người tiền nhiệm là Robert Gates, theo đó, tấn công Iran chỉ có thể trì hoãn chương trình hạt nhân, đồng thời khiến nhân dân Iran đoàn kết hơn và toàn tâm toàn ý chế tạo bằng được vũ khí hạt nhân.

Ông Panetta nhìn nhận rằng hành động quân sự sẽ thất bại trong việc cản trở “những gì họ muốn làm” nhưng “quan trọng hơn cả là sẽ tác động mạnh đến khu vực, tác động mạnh đến lực lượng Mỹ trong khu vực. Chúng ta phải xem xét một cách thận trọng những tác động này”.

“Sốc” dầu thô

Trong các biện pháp trả đũa nhắm vào Israel và những cơ sở quân sự lẫn dân sự của Mỹ trong vùng Vịnh, Iran có thể tấn công những cơ sở công nghiệp dầu khí trong vịnh Ba Tư. Nhưng đối với các nhà kinh tế, sợ nhất là eo biển Hormuz – tuyến đường vận chuyển 40% lượng dầu thô thế giới – bị Iran phong tỏa. Mỗi ngày có 15,5 triệu thùng dầu thô được vận chuyển qua eo biển này, phần lớn là dầu xuất khẩu của Iran.

Mohammad Karim Abedi, một thành viên thuộc Ủy ban An ninh quốc gia của Quốc hội Iran, cảnh cáo rằng bất cứ cuộc tấn công nào nhắm vào Iran sẽ dẫn tới một “thảm họa kinh tế” đối với các nước phương Tây. Đây không phải là lời đe dọa suông. Dự trữ dầu thô của Iran đứng hàng thứ ba thế giới.

Một cuộc khảo sát do Công ty Rapidan Group của Mỹ thực hiện cho biết các nhà kinh doanh dầu thô ước tính mỗi thùng dầu thô sẽ tăng 11 USD ngay sau khi Israel mở màn cuộc tấn công Iran. Sau 30 ngày, giá dầu sẽ tăng lên 175 USD/thùng.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta. Ảnh: Topnews

Nhật báo Anh Financial Times dẫn lời ông Philip Verleger, một nhà tư vấn độc lập, dự báo nếu eo biển Hormuz đóng cửa, giá dầu có thể tăng lên 200 USD/thùng. Verleger từng tiên đoán chính xác giá dầu hồi tháng 8-1990 sau khi Iraq xâm lăng Kuwait.

Ông Verleger, trong một công trình nghiên cứu tác động của dầu thô Iran lên thế giới nếu có xung đột vũ trang ở Trung Đông, giải thích rằng sở dĩ giá dầu có thể tăng cao như vậy là do Trung Quốc và Ấn Độ, hai nước nhập khẩu dầu thô của Iran lớn nhất, tranh mua để bù đắp thiếu hụt. Lúc đó, một kịch bản khủng hoảng dầu tương tự như hồi cuối thập niên 1970 sau khi chế độ vua Shah Iran sụp đổ sẽ xảy ra.

Viễn ảnh kinh hoàng

Bên lề Hội nghị Cấp cao An ninh châu Á tổ chức mới đây tại St.Petersburg, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã cảnh báo rằng tấn công Iran sẽ gây ra một thảm họa ở Trung Đông. Ông nói: “Chúng ta cần hạ hỏa và tiếp tục thảo luận một cách xây dựng mọi vấn đề ở Trung Đông, bao gồm cả vấn đề chương trình hạt nhân của Iran”.

Rất nhiều chuyên gia Âu Mỹ cũng có chung nhận định: Một cuộc tấn công vào Iran sẽ đẩy khu vực Trung Đông vào một cuộc xung đột vũ trang toàn khu vực với những hậu quả nghiêm trọng và khó lường.

Giáo sư Richard Russel công tác tại Đại học Quốc phòng Mỹ tin rằng nếu Israel tấn công Iran, các đồng minh của Iran sẽ dùng chiến thuật du kích đánh trả Israel. Phe Hamas ở phía Nam và phe Hizbollah ở phía Bắc có khả năng mỗi ngày bắn cả trăm quả tên lửa vào Israel. Ai cũng biết sau cuộc chiến thứ hai ở Lebanon, Hizbollah đã tăng cường kho tên lửa của mình. Hamas và Hizbollah có thể gây khó khăn cho Israel vì bị tấn công tứ phía từ Iran, Palestine và Lebanon.

Eo biển Hormuz- tuyến đường vận chuyển 40% lượng dầu thô của thế giới. Ảnh: NASA

Cho rằng Mỹ xúi giục Israel đánh mình, Iran cũng sẽ tấn công các căn cứ quân sự, tàu chiến Mỹ, tòa đại sứ và những cơ sở lợi ích của Mỹ ở các nước vùng Vịnh. Hành động này buộc Mỹ phải đánh trả Iran.

Ông Barah Mikail, một chuyên gia về Trung Đông, cũng cho rằng Iran sẽ kích động các tổ chức thân Iran ở Iraq và Afghanistan tấn công liều chết vào những cơ sở lợi ích của Mỹ và các nước phương Tây ở hai nước này. Như thế sẽ có cả chiến tranh quy ước và chiến tranh du kích toàn khu vực, một viễn ảnh thật sự kinh hoàng.

Nhà báo Simon Jenkins, trong một bài xã luận đăng trên nhật báo The Guardian, lưu ý rằng những quả bom phương Tây không thể chinh phục được Tehran. Israel có thể được tạm yên nhưng nước này và các nước phương Tây sẽ không được “ăn ngon, ngủ yên” bởi sẽ bị khủng bố liên tục.

Bài xã luận của nhật báo Israel Yediot Aharonot gần đây, sau khi nhắc lại những cuộc không kích cơ sở hạt nhân của Iraq năm 1981 và của Syria năm 2007, cảnh báo rằng Iran không dễ bắt nạt như hai nước vừa kể. Hơn 10 năm qua, Iran đã biết trước thế nào cũng bị Israel tấn công, cho nên đã thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ các nhà máy làm giàu uranium mà phần lớn có dạng boong-ke chôn sâu trong lòng đất. Iran cũng phát triển một hệ thống phòng không hiện đại.

Đặc biệt, bài xã luận lưu ý chính quyền Tel-Aviv rằng Iran có thể bắt sống được cả chục phi công Israel và cái giá phải trả không chỉ là 1.000 tù nhân Palestine đổi lấy binh nhì Gilad Shalit, mà còn hơn thế nữa.

VĂN ANH

đọc tiếp »

Iran chuẩn bị gì để 'nghênh chiến' quân đội Israel?


DATVIET - Khi phương Tây ráo riết gây sức ép lên Tehran, cân nhắc khả năng tấn công quân sự quốc gia Hồi giáo, lãnh tụ tối cao Iran Ayatollah Ali Khamenei đặt lực lượng Vệ binh cách mạng (IRGC) trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu.

Sức nóng chiến tranh

Theo Debka, ai ở Iran cũng tin là phương Tây muốn tấn công Tehran chứ không chỉ hù dọa người dân, khiến họ mất niềm tin vào chính quyền. Bản thân giới chức Iran cũng ngày càng cảm nhận rõ sức nóng của mối đe dọa đến từ cuộc tấn công quân sự của phương Tây.

Trước đó, Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad và Bộ trưởng Quốc phòng Ahmad Vahidi cùng chia sẻ quan điểm rằng, phương Tây chưa chắc sẽ tấn công Iran song cũng nhấn mạnh không thể coi nhẹ mối đe dọa này.

Đến đầu tuần này, ông Ahmadinejad tỏ ra bất an hơn khi cho rằng, nếu không chuẩn bị chu đáo cho cuộc chiến này thì Tehran sẽ bị phá hủy hoàn toàn và phải quay trở về thời kỳ 500 năm trước.

Và mới đây nhất, Tổng thống Ahmadinejad thẳng thừng tuyên bố trước các cố vấn thân cận của mình rằng: “Một cuộc chiến tranh quân sự chống lại Israel và phương Tây đang cận kề. Chúng ta không thể ngăn chặn được nữa”.

Còn Ngoại trưởng Ali Akbar Salehi cũng không giấu giếm suy nghĩ của mình về mối đe dọa này: “Hãy để họ làm gì họ muốn. Chúng ta sẵn sàng đáp trả. Ai cũng chỉ chết một lần và rồi nỗi đau cũng sẽ nhanh chóng trôi qua”. Dường như ông Ali Akbar Salehi muốn truyền lửa cho các binh sĩ Iran để chiến đấu quả cảm chống lại phương Tây.

Trong khi đó, trong chuyến thăm đến Học viên Lục quân Iran, Lãnh đạo tinh thần tối cao Ayatollah Ali Khamenei cũng thừa nhận về một cuộc chiến tranh cận kề, đồng thời lên tiếng cảnh báo Mỹ và Israel chớ phát động tấn công quân sự nếu không họ sẽ nếm mùi “nắm đấm thép”.

Kế hoạch hành động

Để hiện thực hóa “nắm đấm thép” này, hai ngày trước khi Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) công bố bản báo cáo gây tranh cãi, Lãnh tụ Khamenei triệu tập cuộc họp. Tham gia là các quan chức cấp cao cùng nhiều tướng lĩnh đến văn phòng mình để cùng đánh giá khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội Iran, cũng như vạch ra kế hoạch chiến tranh.

Theo các tư lệnh của Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran và lực lượng Basij, họ đã kiểm tra công tác chuẩn bị chiến tranh ở 12 đơn vị. Mỗi đơn vị lại có "đội quân riêng", có thể chiến đấu độc lập với đội quân trung ương.

Trong khi đó, Tư lệnh Hải quân Sayyar báo cáo, hạm đội Iran dàn binh tại vùng Vịnh và vùng biển Arab để chặn đứng các đợt tấn công bằng tàu ngầm của phương Tây và Israel; đồng thời bảo vệ vùng biển, ngăn chặn các cuộc đổ bộ của đặc nhiệm cũng như lính thủy đánh bộ nước ngoài.

Iran vạch sẵn kế hoạch ứng phó chiến tranh. Ảnh: Novinine.com

Tiếp đến, Tư lệnh không quân Amir-Ali Hajizadeh, người có quyền quyết định đặt các hệ thống tên lửa Iran ở tình trạng tấn công hay phòng thủ, thông báo khá đầy đủ và chi tiết. Ông tiết lộ khoảng 400 tên lửa Shahab-3 Kadar có khả năng mang nhiều đầu đạn khác nhau như hạt nhân, hóa học…đã "có mặt".

Tướng Hajizadeh cũng nhấn mạnh rằng, các lực lượng của ông nỗ lực hết sức trong vài tháng qua nhằm chuyển 400 tên lửa này xuống các hầm bí mật dưới lòng đất; đồng thời đẩy nhanh tiến độ xây dựng các silo.

Tuy nhiên, ông Hajizadeh thừa nhận, trung bình tới 5-8% tên lửa không có khả năng đánh chặn hiệu quả, 10-15% không nhắm trúng mục tiêu và một số tên lửa có thể bị Mỹ, Israel hay Arab Saudi bắn chặn.

Dẫu sao, ông vẫn tỏ ra lạc quan bởi còn tới hàng trăm tên lửa có sức công phá lớn và chuẩn xác khác. Ngoài ra, lực lượng Hezbollah tại Lebanon và Hamas cũng như Jihad tại dải Gaza sẽ bắn 1.000 rocket trong ba giờ đầu của cuộc chiến; sau đó sẽ là những đợt "dội bom" của khoảng 3.000 rocket khác.

“Số đó đủ để san phẳng bất cứ khu vực nào của Israel”, Tư lệnh không quân Amir-Ali Hajizadeh quả quyết.

Làm rõ hơn về kế hoạch hành động, Tướng Soleimani đưa ra một bản đồ, trên đó ông đánh dấu 102 mục tiêu quân sự đầu tiên của Mỹ tại Trung Đông mà các tên lửa của Iran ở trong và ngoài lãnh thổ có thể nhắm đến.

Ông nhấn mạnh, lực lượng thân Iran được vũ trang bằng tên lửa được triển khai tại biên giới Syria – Iraq. Họ sẽ di chuyển dọc biên giới, bắn tên lửa vào những mục tiêu Mỹ mà họ được giao trách nhiệm từ trước. Sau đó, họ sẽ lập tức quay trở vào lãnh thổ Syria. Mục tiêu của kế hoạch này là làm tiêu hao sinh lực Mỹ.

Tướng Soleimani cũng đưa ra kế hoạch để các chiến binh Hezbollah đang "đóng quân" ở Iraq nã tên lửa từ miền Nam Iraq vào các giếng dầu của các nước Arab tại vùng Vịnh.

Theo ông, những chiến binh này sở hữu 150 tên lửa Scud B và D (lấy từ quân đội Iraq trước năm 2003) và giờ vẫn có thể hoạt động tốt dưới sự điều khiển của các kỹ sư Iran đang “nằm vùng” tại miền Nam Iraq.

Trong khi đó, Giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử Iran Fereydoon Abbasi báo cáo về kế hoạch di chuyển tất cả phòng thí nghiệm hạt nhân cùng các thiết bị đến các cơ sở ngầm dưới lòng đất để tránh các cuộc không kích của phương Tây.

“Chúng ta vẫn chưa hoàn thiện hết các boongke nhưng vì thời gian không còn nhiều nên chúng tôi bắt đầu chuyển những thiết bị quan trọng xuống một số hầm ngầm”, ông Fereydoon Abbasi cho biết.

Quan chức này còn cho hay, trong cuộc tấn công có thể xảy ra sắp tới, nhiều khả năng Mỹ và Israel sẽ phá hủy các cơ sở hạ tầng dân sự quan trọng. Vì vậy, sang tuần tới, những nhà khoa học và kỹ sư hạt nhân hàng đầu sẽ được triệu tập và đưa đến các cơ sở bí mật để đảm bảo an toàn cho họ.

Như vậy Iran đã có những hành động rất rõ ràng để đối phó với cuộc tấn công quân sự của phương Tây. Tuy nhiên, liệu Iran có thể biến những kế hoạch hành động này thành một “nắm đấm thép” thực sự để bảo vệ các cơ sở hạt nhân của mình hay không vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ.

Trà My (theo Debka)

đọc tiếp »

Tiềm lực quân sự Israel


VNE - Israel có kho vũ khí phong phú với nhiều loại xe tăng, tàu ngầm, máy bay chiến đấu, tên lửa và súng ống hiện đại có nguồn gốc nước ngoài hoặc tự sản xuất.

Xe tăng Merkava Mark IV, phiên bản mới nhất của dòng chiến xa Merkava được sản xuất từ năm 1999. Với chi phí ra lò là 4,5 triệu USD/chiếc, xe tăng Merkava Mark IV là một loại khí tài hiện đại. Nó được trang bị hệ thống kiểm soát hỏa lực nâng cấp, hệ thống quản lý chiến đấu kỹ thuật số, khả năng sửa chữa nhanh chóng khi gặp sự cố.

Quân đội Israel hiện có 320 xe tăng Merkava Mark IV trong biến chế, trong khi số xe tăng cùng loại nhưng khác phiên bản là 1.360 chiếc. Đây là những chiến xa chủ lực của Israel và do nước này tự chế tạo. Ảnh: Zahaf

Ngoài dòng xe tăng Merkava, Israel còn có một loại chiến xa đáng chú ý khác là Magach, với phiên bản mới nhất là Magach 7 được phát triển theo mẫu xe tăng M60 Patton của Mỹ. Tổng số chiến xa Magach đang có trong biên chế của quân đội Israel là 1.550 chiếc. Ảnh: Wikipedia

Xe bọc thép IDF Achzarit được Israel sản xuất dựa trên thiết kế của xe tăng T-54/T-55 của Liên Xô cũ. IDF Achzarit được sử dụng để vận chuyển binh sĩ và được trang bị một số loại súng có hỏa lực mạnh. Quân đội Israel hiện có 215 xe bóc thép này trong biên chế. Ảnh: Wikipedia

Israel hiện có tới 600 cỗ pháo tự hành M109 155mm. Đây là mẫu pháo tự hành do Mỹ thiết kế và chế tạo. Ảnh: Military-today

Tên lửa chống tăng tầm xa Nimrod là một sản phẩm tự chế tạo của Israel. Loại tên lửa này có thể được bắn đi từ trên không hoặc từ dưới mặt đất. Ngoài mục đích theo thiết kế nhằm tấn công xe tăng của đối phương, tên lửa Nimrod còn có khả năng đánh phá các xe bọc thép, tàu chiến, boong ke... Tên lửa có thể đạt tốc độ 2.000 km/giờ này được trang bị hệ thống dẫn đường laser, vì thế nó có thể hoạt động cả ngày lẫn đêm. Ảnh: Wikipedia

Quân đội Israel còn đang sử dụng tên lửa chống tăng BGM-71 TOW do Mỹ sản xuất từ năm 1970. Đây là một trong số những tên lửa chống tăng được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay. Ảnh: Wikipedia

Không quân Israel sử dụng máy bay chiến đấu F-15E Strike Eagle do Mỹ chế tạo. Đây là loại phi cơ tiêm kích có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, với tầm hoạt động rộng và có khả năng tiến sâu vào lãnh thổ của đối phương. F-15E Strike Eagle là một khí tài lợi hại dành cho đòn tấn công phủ đầu, nhằm làm nhụt ý chí chống trả, tạo điều kiện cho các đơn vị khác tấn công. Ảnh: Wikia

Ngoài F-15E Strike Eagle, quân đội Israel còn có một loại chiến đấu cơ chủ lực khác là F-16I Sufa. Đây là loại máy bay tiêm kích được dựa trên mẫu F-16 của Mỹ, nhưng đã có nhiều cải tiến. Israel đã thay mới 50% số thiết bị điện tử hàng không trên chiếc F-16l Sufa. Israel hiện có khoảng hơn 100 chiếc F-16l Sufa. Ảnh: Patricksaviation

Không quân Israel sử dụng nhiều loại trực thăng tấn công khác nhau, trong đó nổi bật là AH-64 Apache do hãng Boeing của Mỹ sản xuất. Loại trực thăng này được điều khiển bởi hai phi công và được trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại, cùng các hệ thống hỗ trợ hữu hiệu, đặc biệt là hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (GPS). Ảnh: Primeportal

Israel cũng đầu tư nghiên cứu và phát triển một số loại máy bay không người lái phục vụ mục đích quân sự. Từ trái qua phải là các máy bay không người lái IAI Heron, IAI Eitan, IAI Harpy, IAI Harop, Elbit Hermes 450 và Elbit Skylark. Ảnh: Robostuff, Xnir, Aviantionweek, Defenseindustrydaily, Typepad

Tàu ngầm lớp Type 800 Dolphin của Israel là loại tàu ngầm chạy bằng động cơ diesel do Đức sản xuất. Nó được dựa trên mẫu tàu ngầm lớp 209 mà Đức chế tạo để dành riêng cho việc xuất khẩu tới các khách hàng nước ngoài. Tàu ngầm lớp Type 800 Dolphin có chi phí đóng mới hàng trăm triệu USD mỗi chiếc và được coi là một trong những loại tàu ngầm có thiết kế phức tạp cũng như hiệu quả hoạt động hàng đầu trên thế giới. Israel hiện có 3 chiếc loại này và đang đặt hàng 3 chiếc nữa. Ảnh: Shlomiliss

Tàu hộ tống lớp Sa'ar 5 là một mẫu cải tiến từ tàu hộ tống lớp Sa'ar 4,5. Hải quân Israel đang vận hành 3 tàu loại này. Đây là những chiến hạm có sức mạnh nhất trong hạm đội hải quân của Israel. Dù mang danh là tàu hộ tống nhưng Sa'ar 5 lại được trang bị hệ thống vũ khí và có tốc độ di chuyển ngang với các khu trục hạm. Ảnh: Wordpress

Nhật Nam

đọc tiếp »

Mỹ, Iran căng thẳng nhưng sẽ không đánh nhau?


DATVIET - Mỹ, Saudi Arabia lẫn Iran đang làm “rùm beng” lên tại Liên Hiệp Quốc xung quanh "kế hoạch ám sát" Đại sứ Saudi tại Washington. Nhiều người lo ngại, cẳng thẳng lần này giữa các bên sẽ có thể thổi bùng lên một cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Iran.

Chiến tranh Mỹ - Iran?

Căng thẳng giữa Mỹ - Iran xung quanh "kế hoạch ám sát" Đại sứ Saudi tại Washington có thể thổi bùng lên một cuộc chiến giữa hai nước? Ảnh: Ipolitiquest.

Hiện không chỉ Mỹ, Saudi Arabia mà cả Iran đều gửi thư phản đối lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon liên quan đến việc Mỹ mạnh mẽ cáo buộc rằng, các mật vụ Iran lên kế hoạch ám sát Đại sứ Saudi tại Washington. Tuy nhiên, trong khi chưa rõ bao giờ Hội đồng Bảo an sẽ chính thức đứng ra xử lý vấn đề này thì Iran đang bắt đầu gửi đi những tín hiệu mâu thuẫn, đáng ngờ.

Trong khi Ngoại trưởng nước này tuyên bố rằng vụ ám sát sẽ được điều tra cẩn thận thì Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad lại khẳng định chẳng có gì để điều tra cả và rằng Mỹ luôn thêu dệt nên những lời buộc tội mới chống lại Iran.

Trước đó, đầu mùa xuân năm 2003, cựu Tổng thống George Bush cáo buộc chế độ Saddam Hussein chống lại hòa bình và nhân loại, đặc biệt là việc theo đuổi chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt. Kết quả là tháng 3/2003, các cáo buộc trên bị đẩy lên đỉnh điểm, biến thành cuộc chiến tranh xâm lược khi Mỹ quyết định đưa quân vào Iraq.

Những gì đang diễn ra xung quanh hai đối thủ truyền thống Mỹ - Iran khiến nhiều lo ngại về một kịch bản tồi tệ nhất: xảy ra chiến tranh. Mối lo ngại này không phải là không có căn cứ bởi theo nhiều nhà quan sát, quan hệ Iran - Mỹ hiện rất giống với những gì từng diễn ra đối với Iraq – Mỹ. Đầu tiên là buộc tội, tranh cãi rồi kêu gọi lênh trừng phạt mới từ cộng đồng quốc tế…cuối cùng là một cuộc chiến tranh xâm lược.

Và nếu ai chứng kiến phiên điều trần về vụ Iran tại Quốc hội Mỹ cũng sẽ phải thừa nhận rằng tình hình hiện nay giữa Mỹ và Iran hoàn toàn giống với tình hình năm 2002 – 2003.

Nghị sĩ đảng Cộng hòa Peter King mô tả vụ tấn công khủng bố nhằm vào Đại sứ được xem là một hành động gây chiến. Lời cáo buộc của King nhận được sự đồng thuận từ Nghị sĩ đảng Dân chủ Carl Levin. Còn Ileana Ros-Lehtinen, người đứng đầu Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, yêu cầu chính quyền Obama nên cứng rắn hơn với Iran.

Trong khi đó, phát ngôn viên của Chính phủ hứa hẹn rằng các hàng loạt các biện phát trừng phạt Iran mạnh mẽ chưa từng có trước đó đang được gấp rút soạn thảo. Do đó, chẳng có gì khó hiểu khi người ta lo sợ, cuối cùng thì chiến tranh cũng nổ ra.

Mỹ đừng mơ xâm lược Iran

Tuy nhiên, khó mà đoán được động thái của Quốc hội Mỹ trong lúc này và liệu những gì đang diễn ra xung quanh Iran có đủ khả năng để bùng lên thành một cuộc chiến hay không bởi thực tế là, nếu xâm lược Iran là một việc dễ dàng thì Mỹ đã xâm lược từ lâu.

Kể từ năm 2003, Iran bị kẹp bởi quân đội Mỹ từ ba mặt: phía Nam với sự hiện diện của hạm đội Mỹ ở Vùng vịnh Pécxích; phía Tây: quân đội Mỹ đóng quân ở Iraq và từ phía Đông là ở Afghanistan.

Do đó, nếu Mỹ muốn xâm lược Iran, quân đội Mỹ thuận lợi, dễ dàng huy động, triển khai.

Tuy nhiên, nếu trước đây, vì một vài lý do Mỹ không thể tấn công Iran thì hiện giờ Mỹ lại càng không thể.

Lý do là cho tới nay, Chính quyền Obama vẫn chắc nịch về ý định rút gần như toàn bộ quân khỏi Iraq vào cuối năm nay và nếu không có gì thay đổi thì toàn bộ quân đội Mỹ ở Afghanistan cũng sẽ được trở về nhà vào cuối năm 2014 theo các cam kết của Mỹ.

Điều này sẽ khiến cho Iran có thể thở phào nhẹ nhõm.

Ngoài ra, chính sách đối ngoại mới của chính quyền Obama vừa chuyển dịch trọng tâm sang châu Á cũng sẽ là một yếu tố cản trở việc hình thành cuộc chiến Mỹ - Iran. Trên Tạp chí Chính sách đối ngoại, Ngoại trưởng Hilary Clinton có bài viết khẳng định Mỹ sẽ quay lại châu Á với tựa đề: “Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ”.

Tuy nhiên, đáng chú ý nhất là tuyên bố “Tương lai của đời sống chính trị được quyết định ở châu Á chứ không phải ở Iraq hay Afghanistan”. Đây được xem là lời khẳng định dứt khoát cho sự kết thúc của cuộc chiến tranh kéo dài suốt 10 năm qua ở Afghanistan và Iraq của Mỹ và trong 10 năm tiếp theo “chúng ta cần chuyển trọng tâm về hướng Đông”, nơi đáng để Mỹ “đầu tư thời gian và công sức”.

Điều đó có nghĩa là, Chính quyền Tổng thống Obama sẽ không bắt đầu một cuộc chiến tranh ở Trung Đông; đặc biệt là trong bối cảnh, người Mỹ đã bắt đầu nhận thấy sự nổi lên của một đối thủ toàn cầu mới là Trung Quốc. Do đó, mối bận tâm về Trung Quốc và phía Đông sẽ khiến Mỹ sẽ không còn rảnh tay để lo chuyện Iran thêm nữa.

Đó là lý do nhiều nhà phân tích ví von rằng xung đột với Iran liên quan đến vụ ám sát Đại sứ Saudi Arabia chỉ là món quà chia tay mà Mỹ dành tặng Iran và sau đó, các vấn đề với nước này sẽ được để lại ở phía sau.

Lê Dung (theo RIA Novosti)

đọc tiếp »
of
 
Đối tác | Phong thuy | Tài Chính - Kế Toán | Truyện Tranh Online | Code1k.com | Movang.info | Quần Áo Rẻ Đẹp | 123 Mua Nhanh | SucManhSEO™ | Dịch Thuật Việt |

Hot Defence | ©2008 - 2010 All Rights Reserved by Khanh Nguyen | Website được xây dựng trên nền Blogspot | Xem tốt nhất trên trình duyệt FireFox.

Xin liên hệ Khanh Nguyen qua số ĐT: 016.93.94.95.96
Lượt khách : xxxxx Lượt truy cập : xxxxx
Đầu trang
Giữa trang
Cuối trang